Từ một công bố năm 1994 đến cuộc tranh luận công khai
Theo các bài tường thuật về tọa đàm tháng 8/2019, tên Trần Hoằng Nghị được nhà nghiên cứu Dương Quảng Châu giới thiệu trong tham luận tại hội thảo khoa học “Trần Thủ Độ – con người và sự nghiệp” năm 1994. Báo Đại biểu Nhân dân ghi nhận công bố ban đầu dựa trên những tư liệu điền dã mà tác giả sưu tập; Báo Giáo dục và Thời đại cho biết tham luận sau đó được đưa vào sách “Trần Thủ Độ – con người và sự nghiệp” xuất bản năm 1995. Các tường thuật có khác biệt nhỏ về cách mô tả thời điểm công bố, nhưng đều quy điểm xuất phát của thông tin về Dương Quảng Châu và giai đoạn giữa thập niên 1990. [3,5,6]
Điểm cần lưu ý là tác giả của giả thuyết ban đầu được chính Báo Giáo dục và Thời đại dẫn lời đã tự nhận thức những giới hạn tư liệu của công trình. Bài báo ghi nhận trong tham luận có lời đề nghị các nhà khảo cổ, văn hóa và lịch sử tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ vấn đề, vì tư liệu còn khó khăn, hạn chế. Phần trích được báo nêu gồm cụm “mấy suy nghĩ bước đầu”. Cách diễn đạt này có ý nghĩa phương pháp luận: nó cho thấy nội dung ban đầu được trình bày như một gợi ý cần kiểm chứng thêm, chứ không nhất thiết đã là kết luận hoàn chỉnh có thể dùng ngay như một dữ kiện chắc chắn của chính sử. [6]
Sau đó, thông tin được tiếp tục thảo luận. Năm 2007, theo Báo Đại Đoàn Kết và VnExpress, một hội thảo về “Đức Hoằng Nghị đại vương” đã diễn ra tại Hà Nội, với sự tham gia của các nhà nghiên cứu. Một số công trình của Dương Quảng Châu và PGS.TS Nguyễn Minh Tường phát triển giả thuyết theo hướng Trần Hoằng Nghị là cha của Trần Thủ Độ, đồng thời gán cho nhân vật những đóng góp về khai canh, lập ấp, phát triển sản xuất, dẹp loạn và chiến đấu bảo vệ đất nước. Như vậy, nội dung được lưu truyền về sau đã mở rộng đáng kể so với một giả thuyết cần khảo chứng ban đầu. [2,5,6]
Vấn đề trở nên nổi bật hơn khi giả thuyết được đưa vào một số ấn phẩm. Báo Đại biểu Nhân dân và Báo Thanh Niên dẫn nội dung tập 3 bộ “Lịch sử Việt Nam phổ thông” xuất bản năm 2018, trong đó ghi Trần Hoằng Nghị là cha Trần Thủ Độ, gắn với địa danh bến Trấn và miếu thờ ở Phương La. Báo Đại biểu Nhân dân cũng cho biết một phóng sự truyền hình về “Đức Hoằng Nghị đại vương” phát tháng 12/2018. Những sự kiện này khiến câu hỏi không còn chỉ nằm trong trao đổi địa phương: liệu một nhân vật chưa được xác nhận bằng hệ thống tư liệu đáng tin cậy có nên được giới thiệu rộng rãi như một sự thật lịch sử hay không? [3,4]
Tọa đàm ngày 26/8/2019 do Hội đồng họ Trần Việt Nam phối hợp với các nhà nghiên cứu lịch sử tổ chức nhằm thảo luận chính câu hỏi ấy. Các phát biểu được báo chí tường thuật dưới đây chủ yếu xuất phát từ cuộc tọa đàm và những bài viết liên quan trong các ngày 26–28/8/2019. Cần nhớ đây là một cuộc tranh luận có hoàn cảnh cụ thể; các ý kiến trong bài được ghi nhận theo nguồn báo chí, không được trình bày như thể đã có một phán quyết pháp lý hay một văn bản học thuật duy nhất khép lại mọi khả năng nghiên cứu về sau. [1–6]
GS.TSKH Vũ Minh Giang: căn cứ khoa học phải đi trước việc công nhận nhân vật
Trong các phát biểu được báo Nhân Dân, Báo Đại biểu Nhân dân và Báo Thanh Niên tường thuật, GS.TSKH Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, là người nhấn mạnh rõ nhất nguyên tắc phương pháp luận. Ông không đặt vấn đề ở chỗ một cái tên có thể tồn tại trong truyền miệng hay trong một cộng đồng thờ tự; vấn đề là liệu các tư liệu hiện có có đủ sức chứng minh người mang tên ấy từng tham gia vào tiến trình lịch sử hay không. Đây là sự phân biệt giữa “có tên” với “là nhân vật lịch sử” theo nghĩa chặt chẽ của nghiên cứu sử học. [1,3,4]
Báo Nhân Dân dẫn phát biểu của GS Vũ Minh Giang cho rằng, khi xử lý những ý kiến khác nhau về một nhân vật, cần dựa trước hết vào tư liệu và dùng phương pháp khoa học. Ông liệt kê các nhóm tư liệu cần xem xét: thư tịch cổ, sách sử, văn bia, thần tích, thần sắc, thần phả và câu đối. Đó không phải là danh sách để chỉ cần tìm thấy một tài liệu bất kỳ là đủ công nhận nhân vật; mỗi loại nguồn có đặc điểm hình thành và giới hạn riêng, cần thẩm định trước khi dùng để dựng lại quá khứ. [1]
GS Vũ Minh Giang cũng lưu ý không thể đi thẳng từ kết quả khảo sát điền dã hay một tài liệu thứ cấp mới xuất bản đến kết luận lịch sử chắc chắn. Điền dã có thể giúp phát hiện địa danh, hiện vật, ký ức cộng đồng hoặc dấu vết thờ tự đáng để nghiên cứu. Nhưng khi chuyển từ phát hiện ban đầu sang kết luận về một nhân vật sống cách đây nhiều thế kỷ, nhà nghiên cứu phải kiểm tra nguồn gốc, niên đại, tính ổn định của nội dung, khả năng đối chiếu với tài liệu khác và khoảng cách giữa thời điểm ghi chép với thời kỳ được kể lại. [1,4]
GS Vũ Minh Giang khẳng định: tại thời điểm tọa đàm, tư liệu chưa đủ để giới sử học công nhận Trần Hoằng Nghị như một nhân vật có tham gia vào quá trình lịch sử dân tộc. Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng căn cứ để gắn nhân vật này với Thái sư Trần Thủ Độ còn yếu hơn nữa. Đây là hai tầng chứng minh khác nhau: xác nhận một người có tồn tại và xác nhận người đó là cha của một nhân vật lịch sử cụ thể. Chứng minh được điều thứ nhất không tự động chứng minh được điều thứ hai. [1,3,4]
Từ việc khẳng định “chưa đủ căn cứ khoa học” [1,3] công nhận Trần Hoằng Nghị như một nhân vật có tham gia vào quá trình lịch sử dân tộc, GS Vũ Minh Giang cũng đề cập đến hệ quả của việc phổ biến một nhận định chưa qua kiểm chứng. Khi một giả thuyết được đưa vào sách lịch sử, phim ảnh hoặc truyền thông đại chúng, người đọc dễ tiếp nhận nó như một sự kiện đã được giới chuyên môn xác nhận. Vì vậy, nguyên tắc thận trọng không chỉ dành cho quá trình nghiên cứu nội bộ; nó còn liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của tác giả, biên tập viên, cơ quan xuất bản và đơn vị truyền thông. [1,3,4]
Từ phát biểu này, có thể nhận ra điểm cốt lõi trong quan điểm của GS Vũ Minh Giang: ông không yêu cầu phủ nhận mọi dữ kiện mới chỉ vì dữ kiện ấy chưa xuất hiện trong sử cũ. Điều ông yêu cầu là phải đưa dữ kiện mới qua quá trình kiểm chứng tương xứng với mức độ của kết luận. Một nhân vật được cho là cha của Thái sư Trần Thủ Độ, đồng thời được gán nhiều đóng góp chính trị, quân sự và kinh tế, không thể được xác lập chỉ bằng vài dấu vết rời rạc nếu các mối liên hệ quan trọng chưa được chứng minh. [1,3,4]
Cũng cần chú ý, trong phần trao đổi khoa học, lập luận của GS Vũ Minh Giang nhiều lần hướng đến trạng thái chứng cứ: chưa đủ căn cứ để công nhận. Về mặt logic, “chưa đủ chứng cứ để xác nhận” không đồng nghĩa với một chứng minh tuyệt đối rằng không một người nào mang tên ấy từng tồn tại. Nó có nghĩa là người nghiên cứu hiện chưa được phép đưa nhân vật vào hệ thống tri thức lịch sử như một sự kiện đã xác lập. [1,3,4]
Đây là điểm cần giữ khi dẫn ý kiến của ông: kết luận khoa học phải phản ánh chính xác sức nặng của tư liệu. Một bài viết có thể nhận định dứt khoát rằng hiện chưa đủ cơ sở để coi Trần Hoằng Nghị là nhân vật lịch sử, nhưng không nên biến lời kêu gọi thận trọng của nhà sử học thành tuyên bố rộng hơn mức mà nguồn tư liệu cho phép. Chính sự phân biệt ấy làm cho lập luận phê bình vừa nghiêm khắc vừa có thể bảo vệ được về mặt học thuật.
PGS Phạm Quốc Sử: không có văn bản xác nhận Trần Hoằng Nghị là cha Trần Thủ Độ
PGS Phạm Quốc Sử là nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, tập trung vào câu hỏi về thân phụ của Thái sư Trần Thủ Độ. Theo các bài báo, ông cho biết chưa tìm được văn bản sử học chính thức của Việt Nam thời phong kiến ghi rõ Trần Hoằng Nghị là cha Trần Thủ Độ. Điều này có nghĩa mối liên hệ gia đình được công bố trong một số nghiên cứu gần đây chưa có sự xác nhận từ hệ thống văn bản mà ông khảo sát. [2,3]
Bối cảnh của phát biểu này là các sử liệu được dùng để kể về Trần Thủ Độ chỉ cung cấp thông tin hạn chế về gia cảnh. VnExpress cho biết các nguồn được thảo luận ghi Trần Thủ Độ sinh năm 1194, mồ côi cha mẹ từ nhỏ và sống với bác ruột Trần Lý tại Lưu Gia. Những ghi chép đó không đưa tên Trần Hoằng Nghị vào vị trí người cha. Tuy nhiên, sự im lặng của sử liệu về cha mẹ Trần Thủ Độ cũng không tự động xác định được danh tính của họ; nó chỉ cho thấy câu hỏi về thân thế vẫn còn một khoảng trống. [2,4,6]
Về mặt phương pháp luận, ý kiến của PGS Phạm Quốc Sử gợi ra ba câu hỏi cần trả lời trước khi khẳng định quan hệ cha con: văn bản nào ghi nhận quan hệ ấy; văn bản đó được tạo lập vào thời điểm nào và dựa trên nguồn nào; các nguồn độc lập khác có xác nhận hay mâu thuẫn với nó không. Nếu không chỉ ra được văn bản và lịch sử hình thành văn bản, thì kết luận về huyết thống chưa thể vượt qua ngưỡng giả thuyết. [2,3]
Từ quan điểm của PGS Phạm Quốc Sử, cũng cần phân biệt giữa “không tìm thấy văn bản” và “đã chứng minh văn bản ấy chưa từng tồn tại”. Nghiên cứu lịch sử luôn có khả năng phát hiện tài liệu mới. Vì thế, một kết luận thận trọng có thể nói rằng trong các nguồn được khảo sát chưa tìm thấy chứng cứ xác nhận, thay vì khẳng định mọi khả năng khám phá trong tương lai đều bị loại trừ. Điều quan trọng là cho đến khi có chứng cứ mới, giả thuyết không thể được giới thiệu như dữ kiện đã được xác thực. [2]
Nhà sử học Lê Văn Lan: Trong lịch sử không có nhân vật nào có tên Trần Hoằng Nghị
Trong bài viết ngày 27/8/2019, Báo Đại biểu Nhân dân dẫn phát biểu của nhà sử học Lê Văn Lan: “Trong lịch sử không có nhân vật nào có tên Trần Hoằng Nghị”. Đây là ý kiến thể hiện thái độ phản biện dứt khoát đối với việc coi Trần Hoằng Nghị là nhân vật đã được xác lập trong lịch sử Việt Nam. [3]
Theo Nhà sử học Lê Văn Lan: Trọng tâm thảo luận không phải chỉ là liệu có một gia đình hoặc cộng đồng nào sử dụng tên gọi này trong một thời điểm muộn hơn hay không; trọng tâm là có thể xác nhận người mang tên ấy từng sống vào cuối thời Lý, đầu thời Trần và tham gia các sự kiện liên quan đến vương triều Trần hay không. Chính ở cấp độ đó, các nhà nghiên cứu phản biện yêu cầu phải có chứng cứ lịch sử, chứ không chỉ là một tên gọi được lặp lại trong các công trình gần đây. [3,4]
Theo Nhà sử học Lê Văn Lan: không cần phải xác định cha mẹ thật sự của Trần Thủ Độ để nêu nghi vấn đối với Trần Hoằng Nghị. Hai việc này khác nhau. Một nhà sử học có thể kết luận rằng giả thuyết hiện tại không được chứng minh, ngay cả khi danh tính của cha mẹ Trần Thủ Độ vẫn chưa sáng tỏ. Khoảng trống tư liệu không phải là giấy phép để điền vào đó một nhân vật cụ thể nếu chưa có chứng cứ độc lập xác nhận.
Nhà nghiên cứu Đặng Hùng: khảo cứu sử cũ và đối chiếu các nguồn được viện dẫn
Nhà nghiên cứu Đặng Hùng, thuộc Hội Sử học Thái Bình, đã khảo cứu những bộ sử lớn như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Đại Việt sử ký tục biên”, “Thông sử” và “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”. Ông cho rằng kết luận Trần Hoằng Nghị là cha Trần Thủ Độ chưa có cơ sở khoa học. Trọng tâm của lập luận không chỉ nằm ở một cuốn sử riêng lẻ, mà ở việc xem xét nhiều công trình lịch sử đã lưu truyền các ghi chép về nhà Trần. [2]
Nhà nghiên cứu Đặng Hùng còn đề cập hai văn bản chữ Hán có tên “Trần triều thế phả hành trạng” và “Trần thế gia tộc kí tự”, được nói là do người Pháp phát hiện năm 1938. Theo cách ông trình bày tại tọa đàm, các văn bản ấy không ghi Trần Hoằng Nghị là cha Trần Thủ Độ. Đây là một lập luận có thể kiểm tra bằng văn bản: cần xác định bản gốc hoặc bản sao, nơi lưu giữ, niên đại, quá trình truyền bản, nội dung nguyên văn và cách dịch [2]
TS Mai Hồng: không đồng nhất mỹ tự “Hoằng Nghị Đại vương” với tên riêng
TS Mai Hồng là nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tiếp cận vấn đề từ ngôn ngữ và văn bản Hán Nôm. Ông giải thích “Hoằng Nghị Đại vương” như một mỹ tự – tức danh hiệu tôn xưng có thể được dùng trong thờ tự – chứ không mặc nhiên là tên riêng của một người mang họ Trần. Ông lưu ý: “Không nên lầm lẫn mỹ tự, danh hiệu với tên riêng”. [4]
Đây là một phân biệt quan trọng vì một danh hiệu thờ thần có thể tồn tại trong cộng đồng mà không cung cấp đầy đủ dữ kiện về tên húy, họ tộc, niên đại và cuộc đời của một nhân vật lịch sử. “Hoằng Nghị Đại vương” nếu là mỹ tự thì phải xác định danh hiệu ấy được ban khi nào, cho đối tượng nào, được ghi trong sắc phong hoặc thần tích nào, và chữ “Trần” được gắn với danh hiệu từ thời điểm nào. Nếu chưa trả lời các câu hỏi đó, từ danh hiệu không thể suy thẳng ra một tiểu sử cá nhân. [3,4]
Phương pháp này đòi hỏi đọc đúng cấu trúc của văn bản thờ tự. Một sắc phong có thể tôn xưng vị thần bằng danh hiệu nhiều chữ; một thần tích có thể kể lại truyền thuyết hình thành vào thời điểm muộn; bài vị có thể ghi tên hoặc tước hiệu theo lệ thờ tự. Các nguồn ấy có thể chứa thông tin lịch sử, nhưng cần phân biệt phần phản ánh một thực thể lịch sử với phần nghi lễ, tôn xưng hoặc truyền thuyết. Không phải mọi danh hiệu trong đình, đền đều có thể được coi là chứng cứ về một cá nhân cụ thể ở thời kỳ sớm hơn. [3,4]
Ý kiến của TS Mai Hồng không nhất thiết phủ nhận giá trị văn hóa – tín ngưỡng của việc thờ phụng tại địa phương. Điểm ông nhấn mạnh là giới nghiên cứu không nên chuyển một mỹ tự thành tên riêng và từ đó xây dựng quan hệ huyết thống nếu chưa có bằng chứng. Người dân có quyền gìn giữ tập tục, bài vị và không gian thờ tự của mình; còn việc dùng các thực hành ấy để viết lịch sử về cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII là một thao tác khác, đòi hỏi phương pháp văn bản học và sử học chặt chẽ hơn. [4]
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: danh hiệu thờ thần và nhân vật lịch sử không thể nhập làm một
Nhà văn Hoàng Quốc Hải cho rằng danh hiệu “Hoằng Nghị Đại vương” có thể là mỹ tự dành cho thần được thờ phụng và phản đối việc ghép danh hiệu ấy với họ Trần để tạo thành một nhân vật lịch sử cụ thể. [3]
Lập luận của Nhà văn Hoàng Quốc Hải gặp nhau với cách tiếp cận của TS Mai Hồng ở điểm phân biệt giữa một vị thần trong không gian tín ngưỡng và một nhân vật được xác nhận bằng sử liệu. Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, đối tượng thờ tự có thể được bồi đắp qua nhiều lớp truyền thuyết, mỹ tự và cách gọi địa phương. Quá trình ấy có giá trị nghiên cứu văn hóa – tín ngưỡng riêng, nhưng không tự động cho biết một cá nhân cụ thể đã sinh sống, hoạt động hoặc có quan hệ thân tộc nào vào thời đại được kể lại. [3,4]
Theo quan điểm của Nhà văn Hoàng Quốc Hải, nếu điền dã phát hiện thêm chi tiết về cha của Trần Thủ Độ, các chi tiết chưa đủ cơ sở vẫn chỉ nên đưa vào phần phụ để tham khảo, không nên lập tức đưa vào nội dung chính sử. Đây là đề xuất về cách xử lý tư liệu chưa xác định. Về biên tập, có thể thực hiện bằng cách công bố chú thích rõ “giả thuyết”, nêu tên người đề xuất, ghi nguồn, chỉ ra điểm chưa được kiểm chứng và tránh diễn đạt bằng giọng khẳng định. [3]
Ý kiến của nhà văn không thay thế cho thẩm định sử liệu chuyên môn, nhưng bổ sung một vấn đề quan trọng: cách gọi tên có thể khiến công chúng hình dung một đối tượng tín ngưỡng thành một cá nhân lịch sử có tiểu sử hoàn chỉnh. Khi tên gọi, mỹ tự và họ tộc được ghép vào nhau, trách nhiệm của người nghiên cứu là chỉ ra chứng cứ cho từng mắt xích. Nếu các mắt xích chưa được xác nhận, tiểu sử được dựng lên từ chúng vẫn chỉ là giả thuyết.
PGS Đào Trần Quang Cát: vì sao cần một cuộc tọa đàm khoa học?
Theo PGS Đào Trần Quang Cát, Chủ tịch danh dự Hội đồng họ Trần Việt Nam, vấn đề đặt ra và cần làm rõ hai trách nhiệm khác nhau: nghiên cứu phải tiếp tục mở ra khả năng kiểm chứng tư liệu; còn việc phổ biến một nhân vật trong sách lịch sử chỉ nên diễn ra khi các chứng cứ đã đủ tin cậy. [2,5]
Trong tranh luận về lịch sử dòng họ, việc xác định nguồn gốc và thân thế có thể liên quan đến ký ức cộng đồng, niềm tự hào dòng tộc và thực hành thờ tự. Các mối quan tâm ấy đáng được lắng nghe, song không thay cho chứng cứ. Tọa đàm khoa học có vai trò tạo diễn đàn để đưa các tư liệu ra công khai, đặt chúng dưới sự chất vấn và khuyến khích đối chiếu. Kết luận sử học không thể dựa đơn thuần vào mức độ đồng thuận xã hội hoặc mong muốn tôn vinh một nhân vật.
Giới hạn của giả thuyết ban đầu
Dù bài viết chủ yếu tập trung vào các ý kiến phản biện, cần đặt nguồn gốc giả thuyết vào đúng vị trí. Theo Báo Giáo dục và Thời đại, khi trình bày công bố ban đầu, Nhà nghiên cứu Dương Quảng Châu đã lưu ý về khó khăn và hạn chế tư liệu, đồng thời mong các nhà nghiên cứu khác tiếp tục làm sáng tỏ. Điều đó cho thấy chính công bố khởi đầu cần được hiểu trong bối cảnh nghiên cứu tiếp tục, không nên tách riêng những suy đoán trong đó rồi biến thành sự kiện đã hoàn chỉnh. [6]
Trong quá trình tri thức phát triển, giả thuyết ban đầu có thể được điều chỉnh, kiểm chứng hoặc bác bỏ. Một giả thuyết không có lỗi chỉ vì nó được đưa ra trước khi đủ tư liệu; đó là phần bình thường của nghiên cứu. Vấn đề xuất hiện khi các bước tiếp theo không bổ sung chứng cứ đủ mạnh nhưng ngôn ngữ công bố lại chuyển từ dè dặt sang khẳng định; hoặc khi các công trình kế tiếp lặp lại một nhận định trước đó như thể đã có nhiều nguồn độc lập xác nhận. [2,3,6]
Bài báo của Giáo dục và Thời đại còn tường thuật quá trình từ tham luận ban đầu năm 1994/1995 đến các hội thảo, sách và công bố rộng rãi sau này. Sự lặp lại qua nhiều công trình không nhất thiết đồng nghĩa với sự độc lập của chứng cứ nếu các tác giả sau dựa chủ yếu vào cùng một nguồn đầu tiên. Trong đánh giá nguồn, cần hỏi: mỗi ấn phẩm có đưa ra một văn bản mới độc lập hay chỉ dẫn lại công trình trước? Nếu nhiều tác giả đều dựa vào một giả thuyết chung, số lượng lần xuất hiện của tên nhân vật không thể thay thế cho nhiều bằng chứng độc lập. [3,5,6]
Đây là điểm quan trọng khi xem xét sự lan tỏa của thông tin về Trần Hoằng Nghị. Một kết luận có thể dần được người đọc tiếp nhận như điều đã biết vì nó xuất hiện trong hội thảo, sách, chương trình truyền hình và những bài viết thứ cấp. Nhưng xét về mặt chứng cứ, việc lặp lại làm tăng độ phủ thông tin chứ không tự động làm tăng tính xác thực. Để xác lập nhân vật, cần trở về nguồn gốc ban đầu và các nguồn độc lập có khả năng xác nhận nó.
Khi giả thuyết đi vào sách và truyền thông: nhận định của giới nghiên cứu
Báo Đại biểu Nhân dân đăng thông tin 3 bộ “Lịch sử Việt Nam phổ thông” xuất bản năm 2018 có đoạn viết Trần Hoằng Nghị là cha Trần Thủ Độ và gắn với miếu thờ tại Phương La. Do có những quan điểm lịch sử, tranh luận khác nhau nên bộ sách đã dừng trong tháng 12/2018 vì nội dung liên quan đến thân phụ Trần Thủ Độ. Các chi tiết này cho thấy tại thời điểm đó, giả thuyết đã đi khỏi phạm vi một cuộc trao đổi địa phương để trở thành vấn đề biên tập và phổ biến lịch sử. [3,4]
PGS Phạm Quốc Sử nhấn mạnh ranh giới giữa trao đổi khoa học và cách trình bày trong sách. Quan điểm này có thể hiểu là yêu cầu phân cấp độ chắc chắn trong ngôn ngữ xuất bản: điều đã được chứng minh có thể trình bày như sự kiện; điều còn tranh luận phải được gắn nhãn giả thuyết hoặc nêu trong phần chú giải; điều chỉ có lời truyền khẩu mà chưa xác nhận thì không nên được chuyển thành câu trần thuật chắc chắn. Một câu trong sách phổ thông có sức ảnh hưởng khác với một tham luận chuyên môn vì độc giả phổ thông thường không có đủ công cụ để kiểm tra nguồn gốc của thông tin. [2,3]
GS Vũ Minh Giang cũng nhấn mạnh không nên vội phổ biến một nhân vật khi căn cứ khoa học chưa đủ, nhất là qua sách lịch sử, sách giáo khoa, phim ảnh và phương tiện truyền thông. Lý do không phải hạn chế tranh luận mà là bảo vệ sự phân biệt giữa tri thức đã được xác lập và điều đang trong quá trình khảo chứng. Một ấn phẩm có thể góp phần mở đường cho nghiên cứu, nhưng cần đánh dấu rõ những gì chưa được xác thực để không biến giả thuyết thành kiến thức đại chúng không kèm điều kiện. [1,3,4]
Các nhóm chứng cứ được nhắc đến: giá trị và giới hạn
Sử sách và thư tịch cổ
Các nhà nghiên cứu phản biện viện dẫn việc chưa tìm thấy ghi chép xác nhận Trần Hoằng Nghị trong những bộ sử lớn được khảo sát. Nhóm tư liệu này có ưu điểm là hình thành trong truyền thống biên soạn sử học hoặc được lưu truyền dưới dạng văn bản có thể đối chiếu. Tuy nhiên, mỗi bộ sử có phạm vi ghi chép và mục đích riêng; không phải mọi nhân vật địa phương đều được ghi vào quốc sử. Vì vậy, sự vắng mặt cần được cân nhắc cùng vị trí được gán cho nhân vật. Một người được cho là có vai trò đáng kể trong việc sinh thành Thái sư Trần Thủ Độ và có công trạng lớn thì việc không xuất hiện trong hệ thống nguồn liên quan là nghi vấn đáng kể, song không phải phép chứng minh tuyệt đối về mọi khả năng tồn tại. [1,2,3]
Gia phả và hai văn bản Hán Nôm
Gia phả có thể bảo tồn ký ức dòng họ, nhưng cần xác minh tuổi đời của bản chép, quan hệ giữa các bản, nguồn gốc văn bản và thời điểm ghi bổ sung. Một phả hệ sao chép từ bản muộn không tự động là chứng cứ đồng thời với thế kỷ XIII. Đối với hai văn bản “Trần triều thế phả hành trạng” và “Trần thế gia tộc kí tự”, bài viết dựa vào tường thuật VnExpress về cách Đặng Hùng sử dụng chúng; chưa trực tiếp khảo sát bản gốc. Do đó, ở đây chỉ trình bày đúng mức: theo nhà nghiên cứu được dẫn, các văn bản ấy không xác nhận Trần Hoằng Nghị là cha Trần Thủ Độ. Để thẩm định sâu hơn, cần công bố bản chụp, phiên âm, bản dịch, niên đại và hồ sơ lưu trữ. [2]
Văn bia, sắc phong, thần tích, thần phả và bài vị
GS Vũ Minh Giang nhắc đến các nhóm tư liệu này như những nguồn có thể cần khai thác, còn TS Mai Hồng và PGS.TS Đinh Khắc Thuân nhấn mạnh việc đọc đúng tên gọi và thẩm định tư liệu thờ tự. Một sắc phong nếu còn bản gốc hoặc bản sao có lịch sử lưu giữ rõ ràng có thể giúp xác định một danh hiệu được phong vào thời điểm nào. Thần tích có thể ghi lại truyền thống của làng nhưng thường cần khảo xét thời điểm biên soạn và quá trình tu sửa. Bài vị là vật chứng của thực hành tưởng niệm, nhưng chỉ khi xác minh được niên đại, nguồn gốc và nội dung mới có thể dùng để đi đến kết luận lịch sử. [1,3,4]
Tư liệu điền dã, lời kể và địa danh
Tư liệu điền dã có thể cung cấp chỉ dẫn cần thiết để tìm nguồn cổ, nhưng ký ức cộng đồng có thể thay đổi theo thời gian. Cần ghi rõ người cung cấp thông tin, tuổi, mối liên hệ với địa bàn, nguồn họ tiếp nhận ký ức và khả năng đối chiếu với tài liệu cùng thời. Đối với tranh luận “bến Trấn” và “cánh Bến”, chính sự bất đồng giữa các cách gọi cho thấy cần thêm chứng cứ từ bản đồ, địa bạ, sổ điền, văn bản địa phương hoặc nghiên cứu lịch sử địa danh. Không nên chỉ dùng trí nhớ của một vài người để đóng lại mọi câu hỏi; cũng không nên bỏ qua lời kể nếu nó có thể giúp định hướng kiểm chứng. [5]
Hồ sơ kiểm kê di tích
Danh mục kiểm kê của bảo tàng và cơ quan văn hóa phản ánh điều đã được ghi nhận trong các đợt kiểm kê cụ thể. Chúng có ích khi xác định một tên di tích xuất hiện trong hồ sơ từ thời điểm nào. Nhưng trước khi dùng sự vắng mặt như bằng chứng phủ định, phải biết phạm vi kiểm kê, chính sách lập hồ sơ, các tên gọi khác và khả năng hồ sơ chưa lưu đủ. Ý kiến ông Đào Văn Hồng vì vậy là một nguồn đáng chú ý về tình trạng hồ sơ mà ông tiếp cận; nó nên được đặt cạnh, không thay thế, việc nghiên cứu văn bản cổ và hiện vật tại địa điểm. [4]
Điểm gặp nhau trong các ý kiến và tôn trọng những khác biệt
Các ý kiến được báo chí ghi nhận không hoàn toàn giống nhau về giọng điệu và cách đặt vấn đề. Nhà sử học Lê Văn Lan nêu một nhận định ngắn, dứt khoát về tên nhân vật. Nhà nghiên cứu Đặng Hùng đưa ra các phản biện cụ thể dựa trên sử liệu, phả hệ và địa danh. PGS Phạm Quốc Sử nhấn mạnh việc chưa tìm được văn bản xác nhận quan hệ cha con và trách nhiệm khi đưa giả thuyết vào sách. Tiến sĩ Mai Hồng tập trung vào phân biệt mỹ tự với tên riêng. PGS.TS Đinh Khắc Thuân ghi nhận có bài vị nhưng không xác nhận được mối liên hệ Hán Nôm giữa dòng họ ở Phương La và Trần Thủ Độ. GS Vũ Minh Giang khái quát các điểm ấy thành yêu cầu phương pháp luận về độ tin cậy của tư liệu. [1–4]
Điểm hội tụ dễ nhận thấy là các nguồn được khảo sát tại thời điểm tọa đàm chưa cung cấp căn cứ đủ mạnh để công nhận Trần Hoằng Nghị là nhân vật có vai trò lịch sử đã được xác minh, và chưa đủ cơ sở để xác định ông là cha của Trần Thủ Độ. Tuy nhiên, cần tham khảo, chú ý sự khác biệt giữa những người trực tiếp khảo cứu văn bản, những người phát biểu về phương pháp, người quản lý di tích nêu hồ sơ kiểm kê và nhà văn tham gia tranh luận. Không phải tất cả đều có cùng chuyên môn hoặc thực hiện cùng một loại khảo sát. Gán chung mọi ý kiến cho “các nhà sử học” mà không phân loại sẽ làm giảm độ chính xác. [1–6]
Cũng cần phân biệt hai dạng kết luận: một là kết luận thực chất từ chứng cứ hiện có rằng một giả thuyết chưa được chứng minh; hai là khẳng định phổ quát rằng nhân vật chắc chắn không thể tồn tại. Những bài báo có tiêu đề khẳng định mạnh, nhưng phát biểu của GS Vũ Minh Giang thường được tường thuật bằng ngôn ngữ “chưa đủ căn cứ khoa học”. Đây là ngôn ngữ chính xác hơn cho trạng thái tri thức: nó đặt trách nhiệm chứng minh lên giả thuyết, đồng thời để ngỏ khả năng xem xét tư liệu mới nếu tư liệu đó có nguồn gốc rõ ràng và có thể kiểm tra. [1,3,4]
Nếu xuất hiện tư liệu mới, cần kiểm chứng như thế nào?
Những phát biểu phản biện không đồng nghĩa với việc đóng cửa nghiên cứu. Nếu có người công bố tư liệu mới liên quan đến Trần Hoằng Nghị, tư liệu đó cần được trình bày đầy đủ để các nhà nghiên cứu khác có thể kiểm tra. Tối thiểu cần công khai xuất xứ và quá trình lưu giữ; ảnh chụp hoặc bản dập đủ rõ; phiên âm và dịch thuật nếu là văn bản Hán Nôm; phân tích niên đại và vật liệu; lịch sử sao chép hoặc tu bổ; cũng như lý do cho rằng tư liệu nói về nhân vật cuối thời Lý – đầu thời Trần chứ không phải một đối tượng được hình thành trong truyền thống thờ tự muộn hơn.
Tiếp theo, tư liệu mới phải được đối chiếu với những nguồn đã biết. Nếu một văn bản mới khẳng định Trần Hoằng Nghị là cha Trần Thủ Độ, cần hỏi nó có độc lập với các bài viết từ năm 1994 hay không, có trích dẫn một nguồn cũ khác hay chỉ sao chép lại, và có phù hợp với bối cảnh lịch sử của ngôn ngữ, chức danh, địa danh mà nó sử dụng không. Một tài liệu chỉ được phát hiện gần đây không nhất thiết là tài liệu mới được tạo ra gần đây; nhưng tính cổ của vật mang chữ cũng không tự động chứng minh nội dung bên trong là chính xác. [1,2,6]
Cuối cùng, cần công bố quy trình phản biện: nêu rõ ai đã xem tư liệu, có những bản đọc khác nhau hay không, phần nào đã được xác nhận và phần nào còn tranh luận. Nếu chưa đủ dữ kiện để kết luận, cách trình bày thích hợp là ghi nhận nguồn và đặt nó vào phụ lục tư liệu hoặc mục nghiên cứu tiếp tục, thay vì lồng vào phần tường thuật chính như một sự kiện chắc chắn. Cách này vừa tôn trọng người cung cấp nguồn vừa bảo vệ người đọc khỏi nhầm lẫn giữa giả thuyết và tri thức đã được kiểm chứng.
Kết luận: chưa có đủ căn cứ khoa học để xác nhận Trần Hoằng Nghị là nhân vật lịch sử, là thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ
Nhìn tổng thể các ý kiến của các nhà khoa học nêu trên đều có chung quan điểm có tính thống nhất. GS.TSKH Vũ Minh Giang đặt ra nguyên tắc cần ưu tiên tư liệu lịch sử. Hiện tại thời điểm tọa đàm, tư liệu chưa đủ để giới sử học công nhận Trần Hoằng Nghị như một nhân vật có tham gia vào quá trình lịch sử dân tộc. Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng chưa đủ căn cứ để xác nhận nhân vật này với Thái sư Trần Thủ Độ; PGS Phạm Quốc Sử nhấn mạnh chưa có văn bản xác nhận Trần Hoằng Nghị là cha Trần Thủ Độ và cảnh báo về việc phổ biến một giả thuyết như sự thật; nhà sử học Lê Văn Lan bày tỏ quan điểm phủ nhận việc công nhận tên nhân vật trong lịch sử; nhà nghiên cứu Đặng Hùng đưa ra những phản biện cụ thể về sử liệu, địa danh và tính nhất quán của phả hệ. TS Mai Hồng và PGS.TS Đinh Khắc Thuân giúp làm rõ giới hạn của danh hiệu thờ tự và bài vị; ông Đào Văn Hồng bổ sung thông tin về hồ sơ kiểm kê; nhà văn Hoàng Quốc Hải nhấn mạnh không nên gộp danh hiệu thần linh với nhân vật lịch sử... [1–6]
Như vậy có thể khẳng định: ý kiến của các nhà khoa học nêu trên đều có chung quan điểm là hiện nay chưa có đủ căn cứ khoa học để xác nhận Trần Hoằng Nghị là nhân vật lịch sử từng tham gia vào tiến trình cuối thời Lý, đầu thời Trần; chưa có căn cứ để xác định ông là thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ. [1–4]
Tài liệu tham khảo:
[1] Báo Nhân Dân, “Chưa đủ căn cứ khoa học để đưa ra nhân vật lịch sử Trần Hoằng Nghị”, ngày 26/8/2019.
https://nhandan.vn/chua-du-can-cu-khoa-hoc-de-dua-ra-nhan-vat-lich-su-tran-hoang-nghi-post368970.html
[2] VnExpress, “Nhà sử học thảo luận về thân phụ của thái sư Trần Thủ Độ”, ngày 26/8/2019.
https://vnexpress.net/nha-su-hoc-thao-luan-ve-than-phu-cua-thai-su-tran-thu-do-3973075.html
[3] Báo Đại biểu Nhân dân, Hồng Hà, “Chưa đủ căn cứ khoa học về nhân vật Trần Hoằng Nghị”, ngày 27/8/2019.
https://daibieunhandan.vn/chua-du-can-cu-khoa-hoc-ve-nhan-vat-tran-hoang-nghi-10233204.html
[4] Báo Thanh Niên, Thiên Phương, “Không đủ cứ liệu để khẳng định có ‘nhân vật lịch sử’ Trần Hoằng Nghị”, ngày 27/8/2019.
https://thanhnien.vn/khong-du-cu-lieu-de-khang-dinh-co-nhan-vat-lich-su-tran-hoang-nghi-185878511.htm
[5] Báo Đại Đoàn Kết, “Trần Hoằng Nghị là nhân vật không có thật”, ngày 27/8/2019.
https://daidoanket.vn/tran-hoang-nghi-la-nhan-vat-khong-co-that-10134864.html
[6] Báo Giáo dục và Thời đại, Duyên Vũ, “Trần Hoằng Nghị không phải nhân vật lịch sử”, ngày 28/8/2019.
https://giaoducthoidai.vn/tran-hoang-nghi-khong-phai-nhan-vat-lich-su-post384982.html